Hãy cùng khám phá 10 bộ phim đã định nghĩa lại VFX trong phim và nâng tầm điện ảnh lên một tầm cao mới.

Khi được hỏi: những bộ phim VFX nào gây ấn tượng nhất, có thể định nghĩa hoặc làm thay đổi ngành công nghiệp phim, độc giả của Creative Bloq và Thế giới 3D đã liệt kê 10 bộ phim hàng đầu, với các tiêu chí: có thời lượng trên 60 phút;  có bản phát hành điện ảnh đầy đủ; và nhất thiết phải có yếu tố CG VFX . 

Dưới đây là thông tin của 10 bộ phim đó.

10. Dawn of the Planet of the Apes

Dựa trên sự thành công của Rise of the Planet of the Apes năm 2011, câu chuyện về con người và loài vượn siêu thông minh này chiến đấu để sinh tồn trong một tương lai gần tận thế là một kiệt tác công nghệ. Hầu hết các cảnh quay không có sự xuất hiện của nhân vật con người, vì thế các sinh vật CG của Weta Digital không khác gì các ngôi sao. 

Những bức ảnh trong đó các diễn viên gắn thiết bị cảm ứng hóa thân thành loài vượn đã diễn tả những cảm xúc chân thật nhất.  Những con vượn kỹ thuật số đã được tạo ra bằng cách sử dụng phối hợp hoạt hình tay và cảnh quay chuyển động của Andy Serkis và các diễn viên khác. Các mocap được dính vào cơ thể và được ghi hình trên núi, trong thời tiết mưa gió, áp lực nhằm ghi lại những màn trình diễn chân thực nhất có thể.

Việc thể hiện cảnh chiến đấu của loài vượn thông minh theo một cách đặc biệt mà không phải là cấu xé, cắn nhau đòi hỏi các diễn viên phải thể hiện trong một không gian ảo và thiết lập nhịp đập và góc camera, sử dụng camera ảo.

Bộ phim đã đoạt ba giải thưởng VES, cộng với một đề cử Oscar cho Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất. Có thể khi phần 3 của phim ra mắt, Hollywood sẽ chấp nhận các màn trình diễn bắt chuyển động thì khi đó có thể đề cử Andy Serkis cho hạng mục Nam diễn viên xuất sắc nhất.

09. Pacific Rim

 Bộ phim bom tấn sử thi của đạo diễn Guillermo del Toro kể về câu chuyện những con robot xấu xa cứu loài người khỏi những sinh vật biển quái dị. Đạo diễn đã tập hợp “đội ngũ trong mơ” gồm nghệ sĩ Wayne Barlowe và công ty hiệu ứng thực tế Spectral Motion; Industrial Light & Magic, cùng với các phương tiện hỗ trợ bao gồm Ghost FX, Hybride, Rodeo FX và Base FX.

Giám đốc hoạt hình ILM Hal Hickel cho biết: “Chúng tôi dành rất nhiều thời gian cho [Jaegers] Gipsy Danger và Striker Eureka, vì họ xuất hiện trên màn hình nhất và có nhiều hành động nhất”. “Chúng tôi tập trung vào cách vai và hông hoạt động và cách tất cả các cơ chế khớp với nhau. Trong quá trình hoàn thiện, chúng tôi sẽ điều chỉnh tỷ lệ và những thứ khác dựa trên đầu vào của Guillermo.

“Khi chế tạo nhân vật trên máy tính, chúng tôi tạo hiệu ứng cho chúng và điều chỉnh lại như chỉnh độ dài của cánh tay… và hàng loạt các quyết định tương tự. Họ đã đưa rất nhiều chi tiết vào mô hình, biến các sinh vật trong Pacific Rim thành thành viên của nhóm quái vật điện ảnh được yêu thích, trong đó mức độ yêu ghét và sợ hãi ngang nhau.

Hiệu ứng hình ảnh của bộ phim này đã giành được sáu đề cử giải VES.

08. Gravity

 Gravity của Alfonso Cuarón, lấy bối cảnh không trọng lượng của không gian, là một sự kết hợp hiếm hoi của tác phẩm CG thanh tao và một cốt truyện tình cảm nặng nề.

Được neo bởi màn trình diễn trung tâm của Sandra Bullock – chính xác là diễn xuất trên khuôn mặt, bởi trong phần lớn bộ phim, cơ thể mặc áo choàng của cô được hoạt hình kỹ thuật số thể hiện.

Gravity là một sự kết hợp: đó là một phần của live-action,  phần rất lớn của nó là CG. Những “bộ phận” đó bao gồm các tàu con thoi vũ trụ, Kính thiên văn Hubble, Trạm vũ trụ quốc tế và chính Trái đất.

Mặc dù các thử nghiệm ban đầu đã được thực hiện bằng các phương pháp truyền thống như quay các diễn viên trên giàn dây và trong mô hình vật lý, nhưng việc mô phỏng không trọng lượng và các cảnh quay thực tế không thể đạt yêu cầu. Hiệu ứng kỹ thuật số đã trở thành ngôi sao thầm lặng của bộ phim.

Rất ít đạo diễn giỏi như Cuarón trong việc tạo hiệu ứng hình ảnh giống như một phần tất yếu của hành động.  Là một bộ phim không gian, nó không giống như một bộ phim VFX: nó giống như một bộ phim tài liệu.

Đó là những gì hấp dẫn của Gravity: nó khiến không gian có vẻ thú vị và đáng sợ, nhưng cũng khiến bạn nghĩ rằng đó là sự thật.

7. Avengers: Age of Ultron

Tiếp theo bộ phim đình đám Avengers Assemble năm 2012, Age of Ultron là bộ phim kinh dị điện ảnh lớn nhất của Marvel Studios cho đến nay. Joss Whedon trở lại để viết và chỉ đạo, cùng với giám sát hiệu ứng hình ảnh Chris Townsend, người quản lý hơn 10 hãng phim cho bộ phim Avengers cuối cùng và khoảng 20 hãng phim trong thời gian này.

Industrial Light & Magic đã xử lý 800 bức ảnh VFX, bao gồm các trận chiến mở màn và kết thúc, với ba nhân vật CG chính – Hulk, Iron Man và Ultron. Họ buộc phải phân chia công việc giữa các đội ở San Francisco, Singapore, Vancouver và London.

Như trong phần phim trước, Hulk là một điểm nhấn của hiệu ứng hình ảnh. Với nhân vật kỹ thuật số xuất hiện trong các cảnh quay nhiều hơn 50% so với trong bộ phim trước đó, hãng phim đã thực hiện một cách tiếp cận mới về cơ bắp và da thịt của người khổng lồ xanh. Thông thường, các nghệ sĩ của ILM mô hình hóa hình thức cuối cùng cho cơ thể của một nhân vật, sau đó đặt cơ bắp bên trong và mô phỏng da lên trên. Đối với Ultron, các nhân vật TD Sean Comer và abs Jahromi đã làm việc với một giáo sư y khoa để đưa ra một hệ thống cơ đa lớp mới giúp hoạt động hiệu quả hơn gấp 6 lần.

06. The Matrix

Được phát hành vào mùa xuân năm 1999, The Matrix là tác phẩm khoa học viễn tưởng bất ngờ đã đánh bại The Phantom Menace về đích trong cuộc đua giành giải Oscar cho Hiệu ứng hình ảnh. Đây là khởi đầu sự nghiệp của giám sát viên hiệu ứng hình ảnh đầu tiên John Gaeta, mới 34 tuổi và đi vào lịch sử khi bộ phim nâng tầm cho các vũ đạo của các cảnh chiến đấu và điện ảnh được phát minh lại.

Cảnh tượng đặc trưng nhất của nó là một khoảnh khắc đóng băng đã được gọi là ‘thời gian đạn’, trong đó Neo (Keanu Reeves) tránh đạn bắn vào anh ta bởi một đặc vụ, hình ảnh ấy vẫn còn ấn tượng đến ngày hôm nay.

Đội ngũ của Gaeta đã sử dụng  122 camera tĩnh trên Keanu Reeves, sau đó kích hoạt chúng theo trình tự. Do các camera nằm ở một bên của Reeves có thể nhìn thấy được ở phía bên kia, Gaeta tạo ra các bộ quang học để có thể loại bỏ camera khỏi khung hình.

Giám sát viên Gaeta và Manex VFX Kim Libreri đã tìm thấy câu trả lời tại Siggraph 1997 trong ‘The Campanile Movie’, một bộ phim ngắn của Paul Debevec, George Borshukov và Ngọc Châu Yu. Hình ảnh của các tòa nhà đã được chiếu lại trên các mô hình CG của họ bằng các thuật toán mới, phù hợp nhất. Kết quả là sự ra đời của điện ảnh ảo.

Mặc dù có nhiều cảnh cần chỉnh sửa so với kỹ thuật ngày nay, nhưng chúng vẫn đại diện cho những ý tưởng mà các nhà làm phim thời đó đang cố gắng thể hiện.

(còn tiếp)

Theo creativeblog